Site banner

Một số giải pháp ứng phó với hạn mặn, biến đổi khí hậu

"Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".         

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu: Nhiệt độ trái đất tăng; nước biển dâng; hạn mặn, lũ lụt tăng; giông, bão mạnh hơn. Trong đó, El Nino là một hiện tượng bất thường của thời tiết gây khô và nóng ở khu vực Tây Thái Bình Dương bao gồm khu vực sông Cửu Long. Đồng thời, cũng do biến đổi khí hậu, làm mực nước biển dâng lên, cùng với sử dụng nước dòng sông Mekong của các nước trong khu vực một cách quá độ vào mùa nắng nên nước biển đã xâm nhập rất sâu vào đất liền vùng châu thổ sông Cửu Long, gây thiệt hại nghiêm trọng cho đất và cây trồng.

I. Ảnh hưởng của hạn- mặn

1. Tác hại của hạn - mặn đối với đất:

Khi nước mặn xâm nhập vào ao, mương vườn sẽ tích tụ muối hòa tan trong đất. Cường độ của quá trình bốc thoát nước bề mặt tỉ lệ thuận với tích tụ của muối trong đất và trong nước. Do lượng nước không đủ để rửa trôi muối dẫn đến đất bị mặn.

Đất bị nhiễm mặn gây trở ngại cho sinh trưởng và phát triển cây trồng; làm xáo trộn và mất cân đối sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng của cây trồng; mặn gây phá hủy cấu trúc đất, đất bị nén chặt, hệ vi sinh vật trong đất bị chết, sự phát triển rễ bị giảm sút, giảm tính thấm nước và thoát nước, thiếu sự thoáng khí cho vùng rễ.

2. Tác hại của mặn đối với cây trồng

Ảnh hưởng của mặn đối với cây trồng biểu hiện qua các triệu chứng cháy lá, chết rễ, làm giảm sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của cây trồng. Mặn làm giảm tăng trưởng của cây, khối lượng tươi, khô của cành lá, hàm lượng diệp lục tố; tăng tổng số lá rụng. Ngược lại, gia tăng hàm lượng natri và clor trong lá. Bên cạnh đó, sự tổng hợp cytokinin bị ngừng, ảnh hưởng đến sinh trưởng các bộ phận của cây trên mặt đất.

Tác hại chính của mặn đối với cây trồng:

  • Gây thiếu nước trên cây trồng
  • Gây thiếu dinh dưỡng trên cây trồng
  • Gây ngộ độc trên cây trồng

2.1. Cây trồng bị thiếu nước:

Khi tưới nước nhiễm mặn cho cây trồng thì hàm lượng của muối hòa tan cao làm cho áp suất thẩm thấu của dung dịch đất lớn hơn áp suất thẩm thấu của tế bào. Chính sự chênh lệch áp suất này làm cho hệ thống rễ cây không hút được nước nhưng quá trình thoát hơi nước của lá vẫn diễn ra, nên chỉ một thời gian ngắn sau khi bị mặn (thường không quá 1 giờ) cây trồng có triệu chứng thiếu nước. Đối với cây ăn trái, khi thiếu nước làm lá bị mềm và hơi rủ xuống. Thiếu nước làm cho các tiến trình biến dưỡng trong cây bị rối loạn. Khi thiếu nước trầm trọng, cây bị héo vĩnh viễn dẫn tới chết cây.

2.2. Cây trồng thiếu dinh dưỡng

Chất Na+ của muối mặn đối kháng với các dưỡng chất như NH4+, K+, Ca2+ và Mg2+, làm cho cây trồng khó hấp thụ được các dưỡng chất nầy. Bên cạnh đó, chất Cl- của muối ức chế không cho cây hấp thụ các dưỡng chất NO3-, H2PO4-, HPO42-, SO42-. Do đó, sau một thời gian bị mặn cây trồng thể hiện triệu chứng thiếu dinh dưỡng, dễ thấy nhất là lá bị mất diệp lục tố, vàng đi rồi chết. Sự hút muối khoáng của rễ cây vào thời điểm nhiễm mặn bị ức chế nên cây thiếu các chất khoáng cần thiết. Trong đó, việc thiếu chất lân làm quá trình phosphoryl hoá bị đình trệ, làm cây bị thiếu năng lượng nên không thể duy trì các hoạt động sống bình thường, sự sinh trưởng của cây bị giảm sút. Triệu chứng nầy không xảy ra tức thì, thường thì sau vài tuần bị mặn. Nếu độ mặn cao vượt ngưỡng chịu đựng, cây trồng sẽ thể hiện triệu chứng ngộ độc trước khi thể hiện triệu chứng thiếu dinh dưỡng.

2.3. Cây trồng bị ngộ độc (chết do ngộ độc)

Sau khi rễ cây hấp thụ muối mặn, muối được đưa lên lá. Ở đây, tiến trình thải loại như ứa nước, thoát hơi nước diễn ra làm cho nồng độ muối tăng cao đến ngưỡng gây độc làm chết tế bào, gây cháy lá. Triệu chứng dễ thấy nhất là lá bị cháy khô từ chóp lá lan dần vào trong. Bên cạnh việc ngộ độc trực tiếp do muối, cây trồng còn bị một ngộ độc khác là không giải tán được những chất oxy hóa mạnh như hydrogen peroxide (H2O2), gốc superoxide (O2-),… Trong điều kiện bị stress mặn, hậu quả là hình thành những gốc độc hydroxyl (OH-) làm chết tế bào dẫn đến cháy lá. Triệu chứng dễ thấy nhất là những lá già bị chết khô.

Ngưỡng độc của muối tùy thuộc vào nhóm cây trồng:

- Nhóm cây nước ngọt như sầu riêng, chôm chôm, bòn bon chỉ chịu được nước tưới dưới 1‰.

- Nhóm cây chịu lợ như cam quýt bưởi, xoài, mận có thể chịu được nước có độ mặn khoảng 4‰  dưới mương vườn trong 2-3 tháng trong năm, nước có thể tưới khoảng dưới 1,5‰.

- Nhóm cây chịu mặn như dừa, mãng cầu xiêm ghép trên gốc bình bát có thể chịu được độ mặn trên 5‰ dưới mương vườn, nước tưới dưới 2‰.

Vì vậy, tùy điều kiện thực tế tại địa phương và xu thế tăng xâm nhập mặn, nông dân cần có giải pháp thích ứng trong bố trí lại cơ cấu cây trồng trong tương lai.

3. Biện pháp hạn chế tác hại của mặn

3.1. Giúp cây trồng hút được nước

Có 2 cách giúp cây trồng hút được nước

  • Tìm nguồn nước ngọt. Độ mặn trong sông rạch không giữ cố định mà thay đổi theo ngày trong tháng và theo giờ trong ngày. Độ mặn tăng cao vào những thời điểm con nước rong trong tháng và nước lớn trong ngày, lúc nầy mực nước biển dâng cao đẩy mặn vào. Phải sử dụng dụng cụ đo độ mặn để tìm nước ngọt vào những lúc con nước kém và lúc nước ròng. Lưu ý, trong lúc lấy nước ngọt vào vườn phải kiểm tra độ mặn của nước thường xuyên để ngưng kịp thời khi mặn đến. Phải đo độ mặn của nước ngay vị trí của nơi lấy. Tùy theo đối tượng cây trồng mà có thể lấy nước tưới với ngưỡng mặn khác nhau.
  • Khi sử dụng nguồn nước từ giếng khoan để tưới cho cây trồng cần kiểm tra chất lượng nước trước khi tưới cho cây. Nếu khoan giếng không đúng kỹ thuật và sử dụng quá độ sẽ gây ô nhiễm nguồn nước quý hiếm nầy vốn ưu tiên để dùng cho sinh hoạt.
  • Gia tăng sức hấp thụ nước của cây. Thông thường cây trồng sản sinh ra chất proline để cải thiện khả năng hút nước của nó trong điều kiện bị mặn. Tuy nhiên, lượng proline tạo ra không đủ cho cây chiến thắng được lực giữ nước của muối. Do vậy, cần phải phun chất điều hòa sinh trưởng thực vật như Brassinosteroids (Comcat 150WP, Nyro 0,01N), Super humic, Dexamone… giúp cây trồng sản sinh proline nhiều hơn, gia tăng tiềm thế nước của cây, giúp cây hấp thụ được nước nhiều hơn trong điều kiện bị mặn.

3.2. Giúp cây trồng hút được dưỡng chất

Đất bị mặn thường làm cho tình trạng ngộ độc phèn trở nên nghiêm trọng hơn. Cần đo độ chua nước mà chọn loại phân bón cho phù hợp. Có thể bón bổ sung các loại phân bón sau đây:

  • Bón phân đạm: Bón các dạng phân urea chậm tan như đạm vàng (Urea 46A+) hoặc đạm xanh (Urea +Neb26) (theo hướng dẫn kỹ thuật của Cục Trồng Trọt – Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia – Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long) để cây không bị chết đói khi bị mặn.
  • Bón phân lân: Bón phân DAP-Avail để hạn chế hiện tượng cố định P do Fe và Al ở đất chua, có thể bón phân P dạng Super lân hoặc lân nung chảy.
  • Bón phân kali: Bón phân kali để hạn chế đối kháng của muối mặn Na đối với K, giúp cây trồng hấp thụ được K. Nếu trị số pH của nước ruộng,vườn  trên 5,5 có thể bón K dạng K2SO4 (theo hướng dẫn kỹ thuật của Cục Trồng Trọt – Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia – Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long).
  • Phun phân KNO3 qua lá. Khi bị ảnh hưởng của mặn việc hấp thu dinh dưỡng qua rễ bị hạn chế, hoặc không thể bón qua rễ được phải phun phân KNO3 qua lá với nồng độ 0,5-1% để cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho cây.

4. Cải thiện hệ  thống thủy lợi

Cần phải thiết lập hệ thống đê bao chung trong khu vực hoặc từng vườn nhằm đảm bảo chống ngập khi triều cường, ngăn mặn trữ ngọt trong mùa khô. Đê bao phải đủ rộng và cao hơn mực nước cao nhất trong năm tối thiểu 0,3 m, có gia cố hàng năm tùy theo diễn biến khí tượng thủy văn.

Thiết lập hệ thống cống cấp thoát nước của vùng hoặc từng vườn với khẩu độ phù hợp. Nên có cống cấp và thoát nước riêng nếu điều kiện cho phép sẽ giúp sự luân chuyển nước tốt, chống sự tích tụ phèn, mặn trong vườn.

Bên trong cần nạo vét hệ thống mương vườn đủ sâu, rộng, kín nước (không bị rò rỉ bởi các lỗ mọi) để làm chức năng trữ ngọt đủ nước tưới cho các tháng mặn cao điểm trong mùa khô. Chú ý đến việc lập các hồ chứa nước ở trung tâm vườn với trữ lượng chứa đáp ứng được nhu cầu nước của vườn trong các tháng khô nóng cao điểm. Theo dõi lúc nước ngọt ở các kỳ triều thấp (nước kém, gió chướng yếu) để bơm nước ngọt bổ sung vào hệ thống mương chứa, nhưng vẫn còn cách mặt liếp tối thiểu 0,6 m để không làm thối rễ.

Dùng bạt phủ mặt mương, hồ chứa cũng giúp hạn chế mất nước do bốc thoát bề mặt đáng kể (khoảng 5-10 mm/ngày).

Đối với vùng trồng trên chân đất phù sa mới nên ao hồ khó giữ nước, nông dân có thể thiết kế ao nổi lót bạt chuyên dụng để trữ nước ngọt. Loại ao này có ưu điểm là không thấm nước ra môi trường nên không ảnh hưởng đến cây trồng gần ao.

Thiết kế hệ thống lấy nước bổ sung ngoài đê bao để tận dụng lấy nước tưới cho vườn khi nước có độ mặn dưới ngưỡng cho phép.. Chú ý không tưới nước nhiễm mặn lên tán lá để tránh  gây cháy lá, tưới với lượng nước đủ cung cấp cho cây và rửa được phèn mặn tích tụ trên mặt liếp.

Trong vườn cần phủ liếp, giữ ẩm sớm ngay đầu mùa khô bằng các vật liệu có sẵn như các tàu dừa, cỏ khô, rơm rạ,… hoặc lưới chắn sáng 75% (lưới lan) hoặc màng phủ nông nghiệp.

Sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước như hệ thống tưới nhỏ giọt bằng năng lượng mặt trời, tưới bằng béc phun thấp 6 mm, băng phun mưa,…cũng giúp kéo dài thời gian cấp nước bởi hệ thống trữ ngọt trong vườn.

5. Bố trí thời vụ thu hoạch hợp lý

Cao điểm xâm nhập mặn hàng năm vào vùng trồng thường diễn ra từ tháng 2 - 5 dl. Vì vậy, việc bố trí các lứa trái thu hoạch tập trung vào tháng 12 - 2 năm sau, giúp cây tăng tính chống chịu trong thời gian cao điểm của hạn mặn.

6. Sử dụng gốc ghép chống chịu mặn

Trong điều kiện biến đổi khí hậu, xu hướng hạn mặn sẽ ngày càng trầm trọng thêm. Vì vậy, đối với cây Bưởi da xanh khi trồng mới nên sử dụng cây ghép với gốc ghép chống chịu mặn là rất cần thiết. Các nghiên cứu bước đầu cho thấy các gốc ghép như bưởi Bồng, bưởi Đường Hồng, bưởi Hồng Đường, bưởi Bung (Bến Tre) và Sảnh (Bến Tre) có khả năng chống chịu mặn đến 8 0/00 trong thời gian ngắn. Trong đó, tổ hợp bưởi da xanh ghép trên gốc sảnh có sức sinh trưởng mạnh nhất.

II. Biện pháp ứng phó với ảnh hưởng hạn- mặn:

 1. Trước khi mặn xâm nhập

- Nạo vét hệ thống mương vườn, củng cố hệ thống đê bao để chủ động ngăn mặn, trữ ngọt trước khi nước lợ xâm nhập vùng trồng nhất là trước mỗi kỳ triều cường. Để hạn chế nước trong mương vườn bốc hơi, có thể trải bạt phủ trên mặt nước.

- Bón phân lân nung chảy (Ninh Bình, Văn Điển) để bổ sung các chất lân, canxi, magiê, silic cho cây vừa có tác dụng tăng tính chống chịu của cây, vừa khử bớt phèn mặn nếu có xảy ra. Lượng bón 500 - 800 kg/ha, bón đều trên mặt liếp.

- Bón phân NPK nên kết hợp với các loại phân giàu hữu cơ (có thể sử dụng 3 - 5 kg acid humic), loại phân phù hợp với giai đoạn sinh trưởng, phát triển của vườn cây; kết hợp với 1 - 2 tấn phân hữu cơ/ha để cây có đủ dưỡng chất và tăng tính đệm của đất khi bước vào giai đoạn hạn, mặn.

- Tích cực phủ liếp bằng vật liệu phù hợp để hạn chế bốc thoát hơi nước.

- Củng cố cây che bóng khoảng 30% (cho bưởi); 40% (cam, quýt, chanh).

- Không nên tỉa cành tạo tán ngay trước thời điểm hạn mặn.   

2. Trong thời kỳ hạn mặn

- Kiểm tra hệ thống đê bao ngăn mặn, chống rò rỉ nước lợ vào vườn.

- Thường xuyên kiểm tra nồng độ mặn, khi có nước ngọt (lúc con nước kém và lúc nước ròng) thì tranh thủ đưa nước vào tưới vườn và bổ sung nước dự trữ.

- Nếu cây đang mang trái, cần cân nhắc điều chỉnh sức nuôi cân đối với lượng nước dự trữ. Cần thiết thì hủy một phần hay toàn bộ trái để cứu vãn vườn cây không bị chết kiệt do thiếu nước.

- Nếu vườn cây bị xâm nhập mặn, cần nhanh chóng rút nước mặn ra khỏi vườn. Tìm nguồn nước ngọt khi có thể để tưới rửa mặn trong thời gian sớm nhất.  Chú ý hệ thống tưới nhỏ giọt (sử dụng năng lượng mặt trời, điện năng) sẽ tăng thêm hiệu quả sử dụng nước. Không bón NPK trong thời kỳ không có nước ngọt để tưới.

- Có thể phun phân bón lá như Hydrophos Zn, Casi và các hoạt chất hỗ trợ khác (chất điều hòa sinh trưởng thực vật Brassinosteroids: Comcat 150WP, Nyro 0,01N, Super humic, Vitazyme …), để gia tăng sức hấp thụ nước của cây, tăng tính chịu hạn, giảm tác hại của mặn đối với cây hoặc NKP với loại và tỉ lệ phù hợp cho vườn.

- Củng cố vật liệu phủ liếp, trong đó có loại lưới lan chắn sáng 80% cũng giúp hạn chế bốc thoát hơi nước, giữ ẩm cho vườn tốt và thuận tiện.

3. Sau thời kỳ hạn mặn.

- Sau khi có mưa hoặc nước ngọt trở lại thì tiến hành xả cạn hệ thống mương vườn, kết hợp tưới đẫm mặt liếp nhiều lần để rửa phèn mặn giảm độc chất trong đất; khơi thông đường nước để xổ mặn ra khỏi hệ thống mương vườn.

- Sau khi tưới rửa được 3 - 5 ngày, thì tiến hành bón khoảng 700 - 800 kg vôi/ha. Bón đều trên liếp, tập trung dưới tán cây nhiều hơn bên ngoài. Chọn loại vôi xám dolomite có tổng số CaCO3 + MgCO3 trên 90% hoặc vôi trắng có hàm lượng CaCO3 trên 90 % mới có tác dụng tốt. Sau đó, tưới rửa tiếp thêm 3 - 4 ngày nữa để đất giảm được phần lớn độc chất phèn mặn đã tích lũy.

- Sau khi đã rửa phèn, mặn kết hợp bón vôi xong, thì tiến hành bón phân chứa nhiều lân như: DAP với lượng từ 100 kg (đối với vườn cây còn nhỏ) - 150 kg/ha (đối với vườn cây đã trên 7 năm tuổi), kết hợp với 5-10 kg acid humic đậm đặc như Bioking-K, Super Humic và phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng hoai khoảng 1 - 2 tấn/ha  để kích thích cây ra rễ mới và phục hồi sinh trưởng.

- Sau khoảng 3 - 4 tuần khi cây đã có biểu hiện hồi phục rõ thì tiến hành bón khoảng 1/3 lượng NPK so với điều kiện bình thường. Loại phân NPK tùy thuộc giai đoạn sinh trưởng của cây trong vườn. Sau khi cây ra tược mới chớm già thì tiến hành bón phân hữu cơ và NPK theo nhu cầu của cây với lượng phù hợp.

- Việc tỉa cành, tạo tán cần tiến hành khi cây đã hồi phục sau mặn và khi thời tiết đã mát dịu trong mùa mưa. Loại bỏ bớt hoa, trái trên vườn cây bị ảnh hưởng mặn.

- Chú ý theo dõi và có biện pháp phòng trị kịp thời các dịch hại như bệnh  thối gốc chảy nhựa, chết ngọn, thối trái do nấm FusariumPhytophthora gây ra; một số côn trùng như nhện (đỏ, trắng, vàng), rầy chổng cánh, rầy mềm,  rệp sáp, sâu đục trái … cũng dễ bùng phát do có điều kiện thuận lợi phát sinh, phát triển. Tùy theo từng loại sâu bệnh mà áp dụng biện pháp phòng trị phù hợp, nếu dùng thuốc phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả phòng trị cao và an toàn.

- Sử dụng chế phẩm vi sinh: Tricho Nema (Trichoderma + Paecilomyces) với lượng 8-10 kg/ha/lần, pha loãng theo hướng dẫn trên bao bì, phun ướt đều mặt liếp sau khi đã bón phân hữu cơ để tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh hoạt động và phát huy hiệu quả phòng trị bệnh và tuyến trùng.

Khảo sát thử nghiệm máy lọc nước mặn thành ngọt

III. Ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan khác của biến đổi khí hậu

1.1. Tác hại của khô nóng kéo dài:

- Gây thiếu nước cho cây.

- Gây cháy xém các bộ phận của cây như vỏ trái, lá, vỏ thân cành.

- Suy giảm số lượng và chất lượng hoa, trái dẫn đến giảm sản lượng và giá trị sản phẩm.

          - Các loại dịch hại gia tăng thường gặp trong mùa nắng nóng như: nhện đỏ, bọ trĩ, rầy mềm, rầy  chổng cánh... gây rụng hoa, hư trái, giảm sinh trưởng.

1.2. Biện pháp hạn chế tác hại

- Phủ liếp giữ ẩm bằng vật liệu phù hợp như rơm rạ, cỏ, tàu dừa,...

- Chủ động trữ ngọt và sử dụng phương pháp tưới nước tiết kiệm, hiệu qủa như tưới nhỏ giọt, tưới phun bằng béc nhỏ tầm thấp.

- Dùng lưới chuyên dụng với tỉ lệ chắn sáng phù hợp để che trên phần tán cây bị ảnh hưởng bởi nắng nóng.

- Bao trái bị nắng dọi bằng giấy dày hoặc tận dụng dùng ¼ vỏ bao ximăng bao che cho 1 trái.

- Theo dõi dịch hại qua kiểm tra mật số vào bẫy màu vàng để có biện pháp quản lý phù hợp, kịp thời.

- Bón phân tăng cường sức trước và sau khô hạn.  Bổ sung các loại phân hữu cơ và kali giúp phát triển mạnh các loài vi sinh vật có lợi và điều tiết tốt quá trình bốc thoát hơi nước trên lá. Đối với các vườn cây đang giai đoạn đậu trái, nhà vườn nên bổ sung thêm vi lượng như  phân fetrilon combi.

2. Ảnh hưởng của mưa lũ, giông gió mạnh

2.1. Tác hại:

Do đất canh tác trên vùng đất thấp, hiện tượng mưa lớn kéo dài và kết hợp với triều cường nên các vườn cây ăn trái dễ bị rủi ro ngập úng, ảnh hưởng đến vườn cây do:

- Đất bị đóng váng bề mặt làm đất không còn thoáng khí.

- Đất ngập nên không còn đủ oxy cung cấp cho rễ hô hấp, gây chết rễ, trong thân tổng hợp ethylene gây ngộ độc, làm lá bị vàng rụng. Nếu rễ chết nhiều sẽ gây chết cây.

- Các loài nấm bệnh trong đất (chủ yếu là FusariumPhytophthora) phát triển tấn công gây hại cho cây.

- Khi cây bị thối rễ khả năng hút dinh dưỡng kém, cây bị héo, vàng lá, rụng lá thiếu dinh dưỡng, rụng hoa, trái, năng suất và chất lượng trái giảm.

- Khi mưa kèm gió lớn, kết hợp với triều cường nếu vườn cây ở vị trí đón gió sẽ có khả năng cây sẽ bị đổ ngã gây thiệt hại lớn.

2. Biện pháp ứng phó:

- Khi thiết kế vườn cần lên bờ liếp đủ rộng, có đê bao, cống bộng ngăn lũ, cùng hệ thống chủ động điều tiết nước trong vườn.

- Trồng trên cây mô cao và vun rộng mô kịp thời, chủ động tạo tán thấp rộng để rễ cây phân bố rộng, không ăn sâu nhằm tăng khả năng chống úng, giông gió, cho năng suất cao.

- Trồng cây chắn gió cho vườn cây nếu vườn nằm ở vị trí đón gió bằng các loại cây như: dừa, mù u, phi lao…Tỉ lệ chắn gió khoảng 70% là phù hợp. Chằng chống thân cành bưởi khi có nguy cơ bão đổ bộ vào vùng trồng; kết hợp thu hoạch bớt trái trước khi bão đến.

- Nên giữ lớp cỏ trên bề mặt liếp giúp đất thông khí, mặt đất không bị đóng váng, ít lay động gốc cây  khi vườn cây bị ngập úng.

- Sau khi nước rút cần xới xáo mặt đất (ở vùng tán cây) bằng cào răng (dài 8 - 10 cm) để phá váng, giúp đất được thông thoáng.

- Cần cung cấp thêm chất vôi cho vườn cây với liều lượng từ 0,5 - 1 kg cho mỗi gốc (khoảng 500 kg - 1.000 kg/ha).

- Khi cây bị ảnh hưởng bởi mưa lũ gây hư rễ thì nên cắt tỉa cành non, tỉa bớt trái sau khi bổ sung dinh dưỡng chứa nhiều lân để kích thích rễ hồi phục và phát triển như MKP (100g/10 lít nước) đều lên thân, lá; cách 5 ngày phun lại lần 2, sẽ hạn chế cây ra đọt non và giúp lá mau già./. 

Trung tâm khuyến nông tỉnh