Site banner
Thứ ba, 23. Tháng 4 2024 - 9:28

Cán bộ, Hội viên, Nông dân tỉnh Bến Tre quyết tâm thực hiện phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại

Đôi điều về Thần tài

Thần tài trong tín ngưỡng dân gian là một vị thần đem đến tài lộc cho nhiều người. Nếu xét về hình tượng của “Thần tài” thì quả là phong phú và đa dạng. Mỗi nơi có một kiểu tượng và mỗi vùng thờ một cách, không có sự thống nhất nào cả. Hình tượng của “Thần tài” được chia ra 5 loại tiêu biểu. Loại thứ nhất – tranh hay tượng của một hoặc hai cô gái, tay cầm một chiếc hộp, tay cầm một bó lúa. Loại hình này được gọi là “hợp nhị tiên”. Loại thứ hai -  tranh hay tượng “ Thần tài – Thái bạch Tinh Quân”. Đây là loại hình tượng nghiêm trang, ngồi trên ngai, mặc áo thụng cân đai. Gương mặt tròn trĩnh và không có râu. Loại thứ ba – tượng  “ Thần tài Di Lặc”, có đủ cả các tư thế đứng, nằm, ngồi… Hai tay giơ cao một nén vàng thuyền, hay đeo một xâu tiền cổ. Loại tượng này phổ biến ở Đài Loan và cũng xuất hiện ở một số thành phố lớn ở Việt Nam, nhưng được ưa chuộng trong cộng đồng người Hoa. Loại thứ tư – tượng “Thần tài – Phước Đức Chính Thần” à loại tượng mặc áo thụng, đội mão cánh chuồn hay mũ ni, râu dài ba chòm đến năm chòm, râu đen hay trắng. Loại phổ biến nhật cho người Hoa lẫn người Việt. Loại cuối cùng là loại “ Thần tài Địa Phương”, là loại tượng có phạm vi hẹp của từng địa phương, nhưng có hình tượng khá đặc biệt, khó có thể lẫn lộn với các đia phương khác. Chẳng hạn, “ Thần tài mặt đen ” được gọi là “ Thần Tài Âm Phủ”.

Có một truyền thuyết cho rằng, ngày xưa có hai chị em, người chị tên Hòa, người em tên Hợp. Cả hai đều buôn bán rất giỏi và trở thành giàu có nhất vùng. Nhưng họ lại bị quan lại các cấp thay phiên nhau quấy nhiễu, kiếm chuyện bắt bẻ, họ phải thường xuyên chi những “ khoản phí không tên”. Hai chị em bàn tên phương kế để thoát khỏi tình trạng “ cướp ngày là quan này”, và không biết phải làm cách nào.

Một hôm, hai chị em nghĩ ra được một kế sách, là bằng cách làm cho mình nghèo đi. Như thế họ mới có lý do từ chối các khoản “ chu cấp” vô lý nêu trên. Thế là họ bỏ ra rất nhiều tiền để mua lúa xanh non về chất hàng đống với mục đích để cho lúa khô mục, rồi bỏ đi. Thế nhưng, bất ngờ năm đó xảy ra dịch bệnh ngựa. Số ngựa trong vùng và kể cả vùng lân cận đều lăn ra chết rất nhiều. Mọi người đang lo lắng, bỗng một cụ già mách nước cho dân là nếu lấy lúa non chưa kết hạt được phơi lâu ngày mang về cho ngựa ăn thì sẽ khỏi bệnh. Thế là dân chúng lũ lượt kéo nhau đến mua lúa khô của hai chị em này. Sau khi bán sạch kho, họ thu được một khoản tiền rất lớn. Lần thứ hai, họ cũng quyết tâm làm lỗ, bằng cách thu mua hết gỗ trong vùng dem về chất đống và..đốt. Khi ngọn lửa đang cháy ngút trời, bất chợt một cơn mưa lớn như thác đỗ xuống. Cả núi gỗ lúc này biến thành núi than. Mùa đông năm ấy khác thường, trời trở rét thấu xương. Vì không dự trữ được chất đốt nên mọi người đều tìm đến mua than của hai chị em. Bán sạch số than thì số tiền lần này còn trội hơn lần trước rất nhiều. Hai chị em Hòa và Hợp cũng hết hiểu tại sao họ cứ phát tài liên tục. Thế là họ nhìn nhau ôm bụng cười lăn ra đất. Và cuối cùng họ chết vì cười. Từ đó về sau dân chúng tôn họ làm “ Thần Tài”.

 Tranh và tượng của “ Hòa Hợp Nhị Tiên” là hai cô gái. Một người cầm bó lúa ( tiếng Hoa gọi là “ Hòa”) , và người còn lại cầm chiếc hộp (tiếng Hoa gọi hộp là “ Hợp”). Thuyết thứ hai kể rằng có một người tên là Thẩm Vạn Sơn, người ở làng Nam Tân, huyện Hồ Châu, tỉnh Giang Nam (Trung Quốc) làm nghề mò cua, bắt ốc đổi gạo sống qua ngày. Một hôm, lặn hụp mãi dưới sông từ sáng đến chiều mà anh chẳng bắt được con cua hay con ốc nào cả. Đến lúc nhá nhem tối, anh ta mới mò được một cái chậu sành. Thấy chậu còn tốt anh ta mới bỏ vào khoang thuyền, rồi bỏ vào một ít thóc cho vịt ăn (thời đó người nghèo thường nuôi vịt trên thuyền). Quá mệt mỏi, khi trở về nhà, anh ta đi ngủ say. Sáng hôm sau, anh ta bị bất ngờ khi thấy số thóc trong chậu rất nhiều và tràn ra ngoài đến nỗi vịt ăn không hết. Anh chẳng hiểu việc gì xảy ra, anh đỗ hết số thóc vào thuyền rồi tiện tay ném mấy miếng đồng vào chậu. Không bao lâu mấy miếng đồng cũ đầy lên và chàng họ Thẩm lấy không hết. Lúc bấy giờ anh này mới biết mính có chiếc chậu quý và cái chậu này được gọi là “ Tụ Bảo Bồn”. Từ đó, anh chàng mò cua, bắt ốc vô danh tiểu tốt trở thành “ Thẩm Đại Gia”. Sự giàu có của phú ông họ Thẩm nhanh chóng lan đi khắp nơi, điều này đã đến tai Hoàng đế Chu Nguyên Chương.Vị vua này cho người điều tra, rồi sau đó động lòng tham, đã bàn định với Tể tướng Lưu bá Ôn lập kế hoạch chiếm đoạt. Sau khi đoạt được “ Tụ Bảo Bồn”,  nhà vua đem chôn dưới góc chân thành Nam Kinh. Còn Thẩm Đại Sơn thì đau buồn vì mất của báu, sinh ra chè chén suốt ngày và lôi nhà vua ra chửi bới. Để che dấu việc làm bỉ ổi của mình, nhà vua đã kín đáo cho bắt họ Thẩm kia sung quân tại biên giới. Cuối cùng thì Thẩm Vạn Sơn đã chết bỏ xác trong quân ngũ tại Vân Nam. Sau khi chết, Ngọc Hoàng Thượng Đế tội nghiệp, phong tước cho làm “ Văn Tài Thần”.

Một vị “Thần Tài” trong một truyền thuyết khác cũng khá nổi tiếng là Triệu Công Minh., một nhân vật hư cấu trong truyện Phong Thần diễn nghĩa. Ông là tướng lãnh trong phe triệt giáo, là phe  đối lập với Khương Tử Nha là chính giáo. Nhưng sau khi chết cũng được Khương Tử Nha phong làm “ Võ Tài Thần”.

Có một truyền thuyết khác lại bảo Triệu Công Minh là “Hắc Sát Thần” (thần hung tợn mặt đen), thường tụ tập một đám lâu la yêu quái đi bắt người ăn thịt. Sau đó có một vị tướng trời là Chơn Vĩ bắt được ông. Khi bị bắt, ông lập tâm “cải tà qui chánh” và được Ngọc Hoàng Thượng Đế tội nghiệp, phong tước cho làm “Võ Tài Thần”.

Một truyền thuyết khác nữa lại cho rằng Triệu Công Minh là một lão ăn mày ở núi Võ Đang. Ông lão này sông độc thân và chỉ bầu bạn với một con chó đen và một con vịt lông vàng. Có một người giàu có trong vùng bố thí cho ông cơm thừa, canh cặn. Sau này vì tiêu xài hoang phí trở thành người nghèo. Khi gặp lại thì ông lão  cho người này một số tiền. Về sau, con chó biến thành con cọp để bảo vệ ông và con vịt biến thành con chim phương hoàng để chở ông về trời. Từ đó, dân gian lập miếu thờ và xem ông là “ Thần Tài”.

Trong tiếng Hoa có cụm từ “Bồ Tát” có nghĩa là rộng lượng, cho đi mà không hề hối tiếc. Chính vì liên tưởng đến cụm từ này, mà các nghệ nhân Đài Loan đã dựng nên hình tượng “ Thần Tài Di Lac ”. bởi thế, Phật Di Lạc  lúc nào cũng đeo xâu tiền, khi thì cầm nén vàng thuyền. Phật Di Lac họ Từ, sinh tại Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). Ngài xuất thân từ giới quý tộc “ Bà La môn” giáo. Sau đó theo làm đệ tử Phật Thích Ca, rồi tu đạt chánh quả thành Phật. Trong sách “ Đàm Thiên – Thuyết Địa – Luận Nhân” của tác giả Ngô Bạch (Trung Quốc) cho rằng, rất nhiều người lầm lẫn hình ảnh của Phật Di Lac và Bố Đại Hòa Thượng. Vị Hòa Thượng bụng to, ăn mặc xốc xếch, lúc nào cũng cười này là tu hành tại chùa Lương Nhạc Lâm, thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc). Pháp danh là Khiết Thử, hiệu là Trường Thinh Tử. Ông mất năm 917 (không rõ năm sinh). Sinh thời ông thường đi khất thực khắp nơi và ông có biệt tài dự đoán họa phúc để giúp đỡ mọi người. Trước khi viên tịch, ông để lại mấy câu thơ như sau: Di Lạc Chân Di lạc (Di Lạc vân luôn là Di Lạc): phân thân thiên bách ức( Phân thân thành thiên hình vạn trạng); Thời thời thị thời nhân (mọi thời điểm đều thuộc vào con người); Thời nhân tự bất thức (Thời điểm của mọi người tự mình khó biết). Vì hình ảnh của Phật Di Lạc chẳng ai biệt, nên người ta mượn hình ảnh của vị hòa thượng này để làm Phật Di Lạc.

Riêng về “Thần Tài” có tên “Phúc Chính Thần” thì có nhiều ý kiến khác nhau. Vị thần này được thờ cúng rất phổ biến trong dân gian. Tượng của ông có mặt ở khắp nơi, gồm đủ mọi chất liệu và đủ mọi kích cỡ. Vị “Thần Tài” này thường mặc áo thụng, mang cân đai, râu dài từ ba đến năm chòm. Râu đen hoặc trắng. Khi thì đội mão cánh chuồn, lúc thì đội mũ ni. Tư thế ngồi nghiêm trang. Nếu quan sát bộ tượng Phúc, Lộc, Thọ thì những họa tiết trên áo của ông và trang phục mặc có nhiều nét tương đồng với ông “Lộc”. Có một số tranh trong bộ tượng này, thì ông “Phúc” cũng đội mũ ni. Vì chính cái mão cánh chuồn thì không ít thì nhiều làm vướng tay của các nghệ nhân. Và nếu làm cũng rất dễ vỡ. Do đó, cái mũ ni được thay thế cho mũ cánh chuồn. Bộ râu lục đầu màu đen, nhưng dần dần bộ râu trắng dược thay vào. Chính điểm này đã bắt đầu pha trộn hình ảnh của “ông Thọ” vào đó. Và cũng chính nét già nua của ông, lại làm cho ông trở nân cốt cách hơn, và đầy vẻ thần tiên hơn.

Theo quan niệm dân gian thì ông thần tài là vị thần sẽ giúp mang đến nhiều tài lộc cho gia đình nào thờ cúng ông

Còn trong tín ngưỡng dân gian, thì “ Thần Tài” Trung Quốc chỉ mới sang Việt Nam vào thế kỷ 19. Theo “ Đại Nam Âm Tự Vi” (Huỳnh Tịnh Của – xuất bản năm 1895) đều xem “Thổ Thần” và “Thần Tài” là một. Đó là vị thần canh giữ đất đai, kiêm luôn quản lý tiền bạc. Theo tác giả Huỳnh Minh trong sách “ Gia Định xưa và Nay” thì nhà nho yêu nước Nguyễn An Cư (chú ruột của nhà chí sỹ Nguyễn An Ninh), một lương y nổi tiếng ở Hóc Môn, nhân dịp tết đã dán một đôi liễn vào trang thời “Thổ Địa – Thần Tài – Táo Quân” với nội dung khá khôi hài như sau: “ Ít giấy hẹp hòi thờ một chỗ, giúp tôi giàu có bới ba ông !”. Cũng theo tác giả Huỳnh Minh trong sách “ định Tường xưa và nay” có kể về ông đồ Sáu Mới (huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), là người nhiệt tình đóng góp của cải cho phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ. Nhưng có rất nhiều kẻ giàu có đã từ chối làm việc nghĩa, ông Sáu Mới tức khí lên, và “Thần Tài” bị nhà nho yêu nước châm chọc trong bài thơ: Thần Tài thiệt quá ngu; người sao nhóc túi, kẻ trơn tru; vắng hoe ruột ngưa, kìa quân tử; đầy rẫy rương xe kẻ thất phu; nhà lại có thêm vàng với bạc; nước nghèo không giúp điếu cùng xu; hèn chi trót kiếp lòn trôn ghế; không có đầu ra với địa cầu.

Thành Bàn